Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019


                          “Trại 37 chú và nàng Bạch Tuyết” bên dòng Sê San
                                                                                         Quốc Ninh
Ấy là tôi muốn nói đến một bộ phận gồm 37 cán bộ, kỹ sư, công nhân thi công của Công ty công trình ngầm (thuộc Tổng công ty thủy điện Sông Đà) một trong những công ty chủ lực xây dựng công trình thủy điện Ia Ly ngày nào. Bởi họ là những người đầu tiên “ngủ rừng, cơm vắt” bên hữu ngạn sông Sê San để đặt máy khoan đường hầm dẫn nước và đường hầm đặt các Tổ máy cho Thủy điện Ia Ly…
Còn nhớ, một ngày mùa khô cuối năm 1992, tôi cùng các đồng nghiệp Thanh Phong, Đức Thanh và Trần Văn Nghĩa có chuyến công tác tại công trường xây dựng Thủy điện Ia Ly. Mấy ngày liền chúng tôi lặn lội trong tiếng ồn ào xe cơ giới, bộn bề đất đá công trình; cùng ăn cùng ở với những công nhân thi công trên công trường. Nhưng ấn tượng nhất là đêm cùng với trại của 37 cán bộ, kỹ sư, công nhân kỹ thuật bên rừng sông Sê San đặt dàn khoan núi. Gọi “trại” là bởi: công ty thì đóng bản doanh bên hữu ngạn sông Sê San (thuộc đất Gia Lai), còn họ-37 cán bộ kỹ sư và công nhân thợ khoan  hầm thì đóng trại tiền tiêu để khoan hầm đặt các tổ máy của thủy điện Ia Ly ở bên hữu ngạn Sê Sê San (thuộc đất Kon Tum) . Khi ấy, người trực tiếp đưa chúng tôi đến trại là các kỹ sư tên Trung và Đức phụ trách kỹ thuật, đồng thời là chỉ huy đội khoan núi. Ngày ấy, đập chưa ngăn nên đi lại giữa 2 bờ công trình Thủy điện Ia Ly phải vượt sông Sê San phải bằng xà lan hay ca nô. Khi chúng đến thì anh em kỹ sư và công nhân đang lắp đặt dàn khoan hầm dẫn nước. Chứng kiến khoan hầm là vậy, nhưng với mắt thường của chúng tôi thì chỉ thấy đứng trước một vách núi như một bức trường thành, heo hút hoang vu…Khi hoàng hôn buông xuống, chúng tôi theo mọi người về trại . Nói là trại, thực ra chỉ có cái lán sơ sài nhiều cột. May chăng lán của chỉ huy Đội còn ra dáng cái nhà có bàn có líp che. Còn lại anh em mắc võng ngủ như bộ đội thời chiến. Chiều về mọi người sau khi tắm suối thì quây quần về lán. Hôm ấy, chúng tôi cứ thấy họ nấn ná như đợi ai…thì có tiếng reo:
-A. “Bạch Tuyết” về rồi. Thì ra, người phụ nữ ngồi trên cái xe máy “công trường” bám đầy đất đỏ, với lỉnh kỉnh thực phẩm tươi sống; và, khác mọi ngày là có thêm can rượu, 2 thứ mà mọi người đang đợi: “Bạch Tuyết” và rượu, vì hôm nay trại có khách mà. Giải thích cho chúng tôi kỹ sư Trung hóm hĩnh rằng: “Trại có 37 chàng đực rựa, duy chỉ mỗi Mỵ người phụ nữ duy nhất vừa làm kỹ thuật vừa là “chị nuôi” cho cả đội”. Dừng đôi chút, Trung nói thêm: “Mỵ tuổi đã ngoài 30 nhưng vẫn mãi mê năm tháng theo hết công trình này công trình khác, anh em xem Mỵ là “Bạch Tuyết” của mình”
Đêm ấy, chúng tôi đã vui hết mình giữa chốn rừng thẳm cùng những người thợ khoan. Một không gian lãng mạng mãi đến bây giờ tôi vẫn nhớ, ấy là cái tiếng suối róc rách, róc rách bên tai. Và rừng thật lạ, phong lan ta mang từ rừng về nhà trồng hoa thường thơm vào buổi sáng, còn ở chốn thâm sâu này màn đêm sập xuống lại có thoảng mùi hương. Và câu chuyện giữa chúng tôi mỗi lúc một gần để chia sẻ hiểu nhau hơn. Mỗi người trong đội đều có một biệt danh: Trung và Đức đều học ở Liên Xô (cũ), Trung to cao giọng khàn nên gọi “Trung cồ”; kỹ sư Đức râu quai nón 37 tuổi chưa có người tình vắt vai gọi “Đức râu”. Còn Mỵ, là nàng “Bạch Tuyết” của cả trại, nhưng với riêng mình đã trèo đèo lội suối cả núi rừng Tây Bắc đến núi rừng Tây Nguyên, vẫn chưa chưa tìm được “A Phủ” cho mình…
Bây giờ, mỗi khi có dịp cùng bạn bè thăm Công trình Thủy điện Ia Ly (Chư Pah, Ia Lai), ai cũng thốt lên về sự vĩ đại của công trình thế kỷ. Tôi và ai đó thạo biết về Thủy điện Ia Ly vẫn thường sang sảng giới thiệu rằng: “Công trình có công suất lớn 720MW, khởi công ngày 4-11-1963, phát điện tổ máy Số 1 vào ngày 12-5-2000…”. Nhưng sau những lời hào sảng ấy, trong tôi thường liên tưởng nhớ về cái ngày xưa ấy. Tôi từng nghe có người sau này là lãnh đạo của Tổng công ty Sông Đà, có người nằm lại mãi mãi bên dòng sông Sê San. Và đâu đó có những người phụ nữ đi xây dựng thủy điện như “Mỵ-nàng Bạch Tuyết” họ vì công trình mà đã thành “vọng phu” ở bến không chồng.
                                                                                     QN


Thứ Năm, 30 tháng 8, 2018


                 Hồi ức của những thầy giáo đi B
                                                                                         Quốc Ninh

“Anh hỏi tôi về ngày lên đường vào Nam ấy à. Lâu rồi mà… À tôi có câu thơ này, đọc anh nghe nhé: “Nghe theo tiếng gọi non sông/ba ngàn giáo giới điệp trùng vào Nam/Cùng bạn tại chỗ chống càn/Mở trường gieo chữ nguy nan chẳng sờn”…Ấy là câu chuyện giữa tôi và thầy Phạm Văn Nguyên, cựu giáo chức, một trong những thầy giáo miền Bắc “đi B” chi viện “con chữ” cho miền Nam nói chung, Gia Lai nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Nhắc chuyện dạy và học ngày trước giải phóng ở khu căn cứ Krong-thị trấn Dân chủ (huyện Kbang hiện nay) của tỉnh ủy Gia Lai, thầy Phạm Văn Nguyên nhớ lại: “Đoàn chúng tôi lên đường đi B vào ngày 23-4-1972, hành quân bộ trên đường rừng Tây Trường Sơn, ngày đi đêm nghỉ, sau 3 tháng ròng chúng tôi có mặt tại nơi đóng quân cả Bộ Tư lệnh Quân khu V. Tiếp đó, tôi cùng các anh Nguyễn Văn Mộc (quê Hà Nam); Đặng Hồng Phàn (quê Nam Định) và Trần Quang Nhật (quê Hà Nam, đã mất) được phân về tỉnh Gia Lai, công tác tại Ban giáo dục tỉnh, cá nhân tôi từ nhân viên sau đó được giao làm Phó trưởng ban Bổ túc văn hóa của tỉnh cho đến trước ngày giải phóng”. Qua hồi ức của thầy Nguyên và các cựu giáo chức kháng chiến thì, ngày ấy, ở khu căn cứ đã có các trường để đào tạo cán bộ cho tỉnh như: Trường Bổ túc văn hóa cán bộ thành lập năm 1965, là một bộ phận của trường Chính trị tỉnh bấy giờ do đồng chí Bluk phụ trách đứng chân ở Khu 2 (xã Lơ Ku, Kbang), trường Bổ túc văn hóa ở Khu 7 (năm 1968), ở một số huyện còn có các lớp Bổ túc văn hóa để dạy chữ cho cán bộ xã, và các cháu thiếu niên; trường Sư phạm được thành lập năm 1969, đóng tại khu 2 (tại xã Sơ Pai, Kbang) người phụ trách đầu tiên là đồng chí Lê Chấn; Trường Nội trú tỉnh thành lập năm 1970 (tại Khu 2- xã Lơ Ku bây giờ) và đến tháng 10-1973 thì trường Phổ thông đầu tiên ở thị trấn Dân Chủ được thành lập…
Chuyện dạy và học ngày ấy cũng thật…kháng chiến. Ví như, trường Bổ túc văn hóa cán bộ ở Khu 7- huyện Kông Chro bây giờ, khóa học đầu tiên học viên bao gồm cả người Kinh, Banah, Jrai và cả học viên từ Tỉnh ủy Phú Yên, Khánh Hòa gửi lên học. Lớp học còn có các cháu là con em cán bộ tại chỗ cũng được chiêu sinh, khóa học đầu tiên của trường được trên 70 học viên. Giáo trình, giáo án cũng có nhưng thiếu thốn nhiều. Còn trường Phổ thông đầu tiên ở thị trấn Dân Chủ, ban đầu chỉ có 2 thầy giáo, với 5 bộ giáo trình mà đã đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục phổ thông Giải phóng trong cuộc kháng chiến vệ quốc ở Gia Lai. Ngày ấy, vừa học, vừa làm, vừa tăng gia sản xuất tự túc cho đời sống của cả thầy và trò. Vậy mà, nhờ các lớp học ngày ấy đã nâng cao văn hóa, dân trí cho đội ngũ cán bộ và nhân dân vùng giải phóng của ta. Là cái nôi đã nuôi dưỡng bao thế hệ cán bộ chủ chốt từ trong kháng chiến và cả đến hôm nay.
Chuyện kể của các thầy giáo kháng chiến lúc vui, khi chùng xuống về những kỷ niệm thuở nào, về những thầy giáo vừa dạy học vừa phải cõng gùi, mang súng như bao chiến sĩ tiền phương đầy nguy hiểm và bất trắc trong chiến tranh. Các thầy giáo ngày ấy, không chỉ dạy học, mà còn là cán bộ dân vận,  thâm nhập vào dân tuyên truyền vận động bà con cho con em đi học và cung cấp lương thực thực phẩm cho cách mạng. Ngày ấy, gian lao, sống chết bất thường mà tình người đầy ắp…Là những kỷ niệm không thể nào quên khi đi cõng lương thực, thực phẩm ở Kon Pne, khi đồng đội sốt rét ác tính, những thầy giáo như ông Nguyên có thể chạy bộ xuyên rừng, xuyên đêm để đưa cán bộ y tế đến cứu chữa; là những lần đi gùi nhu yếu phẩm ở đồng bằng, gặp địch phục kích, lạc rừng vẫn bám trường bám địa bàn.
Giờ đây, ngồi ôn lại chuyện xưa, các cựu giáo chức thời kháng chiến người còn, người mất. Với riêng nhà giáo Phạm Văn Nguyên, đã có một gia đình giáo chức có các thế hệ nối tiếp cha ông, viên mãn. Nhìn vào những Bằng khen, và những giải thưởng lớn về thơ ông viết về Trường Sa, về khí tiết người Việt, tôi cảm phục không chỉ tính mô phạm trong ông, mà còn ở tính kiên trung, ân nghĩa của người thầy giáo trong kháng chiến, từ chính câu chuyện trước lúc ông khoác ba lô đi dạy học ở chiến trường: “Biết sâu sắc hoàn cảnh của tôi đi B có mẹ già và 4 con nhỏ, ngoài chính sách chung, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Xuân Trường (Nam Định) nơi tôi lên đường đi chiến trường đã cấp cho mẹ tôi một cỗ áo quan (thời trước, các cụ già miền Bắc thường quan niệm: sống cái nhà, già cái mồ-NV), phòng khi cho tuổi già lúc lâm chung mà người trai cả như tôi vắng nhà. Đây là ân nghĩa mà tôi ghi nhớ suốt đời”.
                                                                                       QN

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

NGHÈ GIÁP, ĐỀN NƯA VÀ LỄ HỘI VĂN HÓA TÂM LINH

NGHÈ GIÁP, ĐỀN NƯA
VÀ LỄ HỘI VĂN HÓA TÂM LINH
                                   Nguyễn Thị Hoa – Quốc Ninh  
Làng Cổ Định một vùng đất thiêng - Địa linh nhân kiệt, sơn thuỷ hữu tình.Từ thời thượng cổ nơi đây là một tụ điểm của cư dân Việt. Với cái tên khai sinh Chạ Kẻ Nứa cũng cho thấy nó là cộng đồng của thị tộc nông thôn nguyên thuỷ thuở xưa .
Cùng với sự phát triển của Lịch sử cái tên làng cũng được thay đổi nhiều lần, sự tách nhập cũng được diễn ra theo những thời điểm cụ thể. Có lẽ từ thế núi thế sông ấy mà dân cư xưa đã chọn nơi đây lập làng sinh sống.  Làng Cổ Định chỉ với diện tích 2.573,99 ha nhưng lại là khu vực dày đặc các di tích lịch sử văn hoá với 11 Đình, 9 Chùa, . Vùng đất thiêng này cũng đã sản sinh biết bao anh hùng hào kiệt, danh nhân làm rạng danh quê hương, đất nước.
Đỉnh Am Tiên, Ngàn Nưa

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014



MỪNG XUÂN GIÁP NGỌ

                       Lê Tân
  Ngựa quý về đây, tiễn mãng xà
Con đường gian khó đã dần qua
Đầu xuân đón tết hoa đua nở
Cuối xóm đưa chân bước rộn xa
Nông nghiệp đổi thay đồng mẫu lớn
Công thương phát triển: pháo tung hoa
Gia đình, đất nước vui khôn xiết
Thế giới chung tay kết một nhà

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014



Tam cốc   Bích động

                    Lê  Tân



Thuyền lướt trên sông sóng nước xanh
Nghiêng nghiêng đôi mái đạp cong cong
Đây hang thiên tạo vùng Tam cốc
Nọ núi ai xây Bích động phòng
Thuyền tới thuyền lui ngàn vạn chiếc
Xe đi xe lại  triệu người mong
Một vùng trời nước mênh mông đó
Chim hót vượn reo lay động cành

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014



          NỤ XUÂN
                      (Mừng cháu nội Lê Minh)

Một vòng Hoa Giáp kề bên
Mùa xuân vừa đến nhà thêm búp mầm
Tay nâng chén, dạ bâng khuâng
Mừng có cháu nội như vầng thái dương.

Ông, bà đã trải đoạn trường
Ngọt ngon trần thế để nhường cháu con
Cội già thương búp xanh non
Thương cháu mai đạp chân son vào đời.

Thứ Tư, 29 tháng 1, 2014

Bí thư chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Gia Lai

Vào một ngày cuối thu năm 2012, chúng tôi từ Gia Lai tìm đến ngôi nhà của Trung tướng Nguyễn Đường ở Hà Nội, với mong muốn thắp hương tưởng nhớ ông và tìm kiếm tư liệu để viết lịch sử báo chí cách mạng Gia Lai. Bởi ông là người Bí thư chi bộ Cộng sản đầu tiên của tỉnh Gia Lai. Đón chúng tôi là mấy người con gái của ông: Nguyễn Thị Minh Lợi, Nguyễn Thị Minh Hoài và Nguyễn Thị Minh Hằng. Họ kể về những kỷ niệm gắn với người cha yêu quý và cho chúng tôi xem bản thảo hồi ký về cuộc đời của ông.

Đến với Cách mạng  

Lần giở những trang bản thảo “Cuộc đời tôi” do chính Nguyễn Đường tự truyện (nay đã được in thành sách), tôi càng hiểu hơn về tính cách và sự nghiệp một con người mà tên tuổi ông đã đi vào lịch sử không chỉ của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Gia Lai, mà còn là một tên tuổi trong hàng ngũ tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

 
  Đường Nguyễn Đường (TP. Pleiku). Ảnh: Duy Lê
Đường Nguyễn Đường (TP. Pleiku). Ảnh: Duy Lê  

Phạm Thuần-Trưởng ty Công an đầu tiên của Gia Lai


Trong lớp những đảng viên thuộc Chi bộ và Đảng bộ đầu tiên ở Gia Lai, có một người mà chúng ta nhắc đến tên rất nhiều, nhưng thân thế và cuộc đời thì gần như còn chưa được mấy ai biết đến-đó là Phạm Thuần. Là Tỉnh ủy viên lâm thời của Đảng bộ Tây Sơn (Đảng bộ tỉnh Gia Lai ngày nay), ông đã kinh qua nhiều chức vụ ngay sau Cách mạng Tháng Tám: Chủ tịch Hội Thanh niên cứu quốc; Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh (1946); Trưởng ty Công an (khi ấy gọi là Trưởng ty Cảnh sát) đầu tiên của Gia Lai.
Chàng thủy lâm và hàng thông reo Phố núi
Một chiều, tôi tìm về ông Nguyễn Khoa (tức Nguyễn Khắc), một người bạn của ông Phạm Thuần từ thuở Đoàn Thanh niên Gia Lai hồi tháng 3-1945 cùng tham gia giành chính quyền ở Gia Lai.
 
1
Ông Phạm Thuần. Ảnh: Q.N
Ông Nguyễn Khoa nhớ lại: Hồi đó, ông hoạt động trong Hội Cứu tế đỏ bị bắt (1940) và được thả ra tù đang bắt nối liên lạc với cách mạng. Sau Nhật đảo chính Pháp, ông từ Bàu Cạn về Pleiku, khi đi đến núi Hdrông (núi Hàm Rồng) bỗng nghe tiếng sáo tre réo rắt như ẩn chứa nhiều tâm trạng. Cảm động trước âm điệu của tiếng sáo, ông tìm đến nơi người thổi sáo thì mới hay đó là người cai trồng rừng thuộc Hạt Thủy lâm liên tỉnh Gia Lai-Kon Tum. Nói là cai cho oai, chứ thật ra chẳng khác gì bị quản thúc! Họ làm quen nhau thật tình cờ, nhờ vậy mà ông đã liên lạc được với Đoàn Thanh niên Gia Lai, vì ông Phạm Thuần là một trong số cán bộ của Đoàn Thanh niên ngày ấy. Họ cùng hoạt động cách mạng với nhau, cùng chứng kiến những biến cố trọng đại của Gia Lai những ngày đầu giành chính quyền và ngày đầu kháng chiến.

Cũng từ câu chuyện của ông Nguyễn Khoa, tôi hiểu thêm nhiều điều bất ngờ về người trồng cây xung quanh thị xã Pleiku năm xưa.

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

THỦY TỔ: LÊ DUY ĐÀN
HỌ LÊ ĐÌNH

Nước sinh ra có nguồn
Người sinh ra ở tổ
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Nước thì có quốc sử
Họ thì có gia phả

BÀI CA ĐOÁN MỘ TỔ

Na Sơn giáng khí địa an bài
Thủy hình kim động điểm vô sai
Bạch hổ hồi đầu sơn bang tước
Thanh long cung thủ thủy nhập hoài
Sơn cao huyền vũ tăng thêm thọ
Minh đường chu tước lại hiền tài
May mắn con trai đăng khoa mục
Vào năm hợi, dậu nữ lâu dài…
Mộ này ở khu vực Nấp tế - Cồn tre. Con cháu thay nhau giữ.
Đến này khu mộ được xây cất khang trang và có đền thờ to lớn.
Khai quốc công thần: Lê Lôi (Tức là Xa kỵ thượng tướng quân Lê Thạnh)

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Nguyễn Đoan và bức tranh "Bác Hồ với thiếu nhi miền Nam"

                      
Bảo tàng Hồ Chí Minh, Chi nhánh Gia Lai-Kon Tum, vào tháng 01 năm 2013 tiếp nhận một bức tranh sơn dầu “Bác Hồ với thiếu nhi miền Nam” của họa nghiệp dư-Nguyễn Đoan trao tặng. Tôi và những đồng nghiệp xem tranh và đều có chung suy nghĩ: Đây là một bức tranh, có cách thể hiện rất riêng so với những bức tranh mà tôi từng thấy trước đó của các họa sĩ vẽ về Bác Hồ với thiếu nhi. Đem những suy nghĩ của mình trao đổi với tác giả, thật bất ngờ, đằng sau câu chuyện vẽ tranh cũng đầy thú vị.
Chuyện về hồn tranh
Anh tâm sự: “Một lần có 2 cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh, Chi nhánh Gia Lai-Kon Tum đến nhà để hỏi anh về những kỷ niệm khi gặp Bác Hồ. Chuyện trò với họ bỗng nhiên những ký ức tuổi thơ dậy về. Ký ức về những lần gặp Bác, về bóng hình, về nụ cười của Bác dường như đã trở thành một phần máu thịt trong anh. Đã bao lần anh muốn cầm cọ tái lại cái thời khắc thân thương ấy, nhưng chưa làm được. Như được động viên bởi những người “đi tìm hình của Bác” ở Bảo tàng Hồ Chí Minh, anh hứa: Sẽ vẽ tặng Bảo tàng một bức tranh về Bác với thiếu nhi miền Nam, mà anh từng tắm mình trong không gian ấy”. Với ký ức đã thấm đẫm trong anh hơn nửa thế kỷ, với những nghĩ suy về cuộc vận động “Học  tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, anh đã miệt mài kể lại tấm lòng Bác bằng những gam màu và tình cảm yêu thương cảu thiếu nhi miền Nam với Bác...
alt

Tranh Nguyễn Đoan: " Bác Hồ với thiếu nhi miền Nam"

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Hành hương về Xóm Ké

 Một ngày tháng tư năm 2013, chúng tôi hành hương về Xóm Ké-chiến khu xưa thời kỳ đầu chống Pháp của Tỉnh ủy Gia Lai và của Huyện ủy An Khê. Hỏi những người đang sinh sống trên đất Song An, thì đôi người biết tích xưa, còn lại với họ chỉ tên gọi một vùng đất rẫy.


Tôi-kẻ hành hương, lặng lẽ tìm về… được khích lệ bởi câu nói của vị tiền bối từng làm báo Sáng, từng là thợ in báo tại chiến khu Xóm Ké ngày nào-bác Nguyễn Thái Thưởng: “Các cháu đã lặn lội ra tận Huế tìm tôi, quý lắm, nhưng các cháu đã tìm về Xóm Ké chưa? Báo ta đã từng in và phát hành ở đó”.

Ngượng ngùng tôi nói thác: “Dạ, tháng tư năm nay chúng cháu quyết về”. Thật bất ngờ, chuyến đi trong tôi đã gặt hái nhiều điều, đong đầy cả niềm vui và cả nỗi niềm về đất và người Xóm Ké.

 
Bà Võ Thị Hường (xã Song An, thị xã An Khê) là du kích của chiến khu Xóm Ké những năm 1946-1954. Ảnh: Quốc Ninh
Bà Võ Thị Hường (xã Song An, thị xã An Khê) là du kích của chiến khu Xóm Ké những năm 1946-1954. Ảnh: Quốc Ninh 

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013

Lãng mạn ATK

Lãng mạn ATK

Lâu nay, khi nói đến Trung ương Cục miền Nam, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng ta thường biết đây là hậu cứ bí mật, được mệnh danh là an toàn khu (ATK). Đọc sử và những sách viết về chiến tranh chống Mỹ, chúng ta biết đến chuyện về các vị lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam như: Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt… bám trụ trực tiếp lãnh đạo tại chiến trường miền Nam cho đến ngày toàn thắng. ATK đã được giới nghiên cứu khoa học lịch sử, lịch sử chiến tranh nghiên cứu và sự khâm phục về tổ chức hậu cứ chiến tranh.

Với tôi, từng là lính trận có mặt tại chiến trường B2 thời chống Mỹ, nhưng hầu như  khi ấy không biết về một chiến khu như thế. Hôm nay, là một du khách đến tham quan ATK, được du ngoạn, được biết thêm nhiều điều kỳ diệu về một ATK, nghiêm mật đấy và lãng mạn đấy

alt

Các hướng dẫn viên kể những câu chuyện về một thời chiến đấu, một thời đạn bom của những con người đã đi vào huyền thoại Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh, Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt…

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013

Đền Nưa vào hội



                             Lễ hội Ngàn Nưa                              
                                          Quốc Ninh

Theo lệ thường, hàng năm cứ vào rằm tháng Giêng ở quê tôi lại vào Lễ hội đền Nưa. Lâu lắm tôi mới được về ăn Tết quê, lại được tham gia Lễ hội thật vui. Lễ hội được khai mạc sớm (mồng 8 tháng Giêng) rất trọng thể và trang nghiêm, với phần trống hội, lễ tế thiên địa, thần linh và lễ tế mở cổng trời tại huyệt khí cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, nhà nhà hạnh phúc
Lễ hội đền Nưa – Am Tiên là một hoạt động văn hóa tín ngưỡng nhằm tôn vinh công đức của các vị anh hùng dân tộc, đồng thời nhằm giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ sau.
Cổ Định-Tân Ninh, vùng thôn dã nằm nép mình bên rặng núi Nưa hùng vĩ của xứ Thanh.Nhà thơ Mộng Chữ đến vùng đất này, cảm được vẻ đẹp, ông đã phác hoạ bức tranh: “Ai đi về Thanh / Nơi đồng lúa xanh xanh / Nơi núi lên biêng biếc / Nơi thôn xóm xinh xinh”.Thật vậy, Cổ Định quê tôi có dòng sông Lãng, có núi Nưa  xanh biếc. Mỗi năm khi mùa xuân về, vào Rằm tháng Giêng làng tôi rộn ràng vào lễ hội. Người trong làng, kẻ sinh sống nơi xa, khách thập phương nô nức về dự Lễ cầu an. Hoà trong dòng người, tôi người con xa quê hương nay về thăm quê trong lòng đầy tự hào về quê mình một vùng quê văn vật, địa linh. Như lời diễn văn khai mạc của vị đại diện cho Uỷ ban nhân dân huyện Triệu Sơn, Thanh hoá, đã nhắc lại truyền thống: Núi Nưa nơi bà Triệu dấy binh đánh giặc Đông Ngô; miền đất của khoa bảng. Sử sách còn ghi qua các triều đại Lý-Trần-Lê-Nguyễn luôn có nhiều người tài giúp nước như: Luật quốc công Lê Thân (đời nhà Trần); có vị làm đến chức tể tướng; vào thời đại nhà Lý, nhà Trần có dòng họ Doãn có ba người phó chức chánh sứ sang Trung Quốc (đó là các ông Doãn Anh Khải, Doãn Tử Tư và Doãn Băng Hiến)... 
Tam quan Đền Nưa, Tân Ninh Triệu Sơn Thanh Hoá





Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2013

Nói với nàng thơ

Đêm nằm chưa ngủ nghĩ lan man
Rủ rỉ cùng em ở dưới màn
Duyên nợ đôi ta "tình" thắm đượm
Tơ hồng chắp nối " nghĩa" nghĩa chưa tan
Gieo vần câu tứ"đêm" chăn gối
Tâm đắc tri ân "sáng" khúc đàn
Chắt lọc ngôn từ "gieo" dưới yến
Hương đời một cõi "rắc" canh tàn.

                                      Lê Đình Tân

Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Gặp mặt cựu học sinh 12 I và 12C Trường Triệu Sơn 2

Tết Quý Tỵ - 2013 đối với mình thật là vui, vui vì nhiều lẽ, nhưng vui nhất là gặp lại học trò cũ, những học sinh thân yêu mà mình từng chia sẻ trong những năm đất nước thật khó khăn đói cơm, lạt muối. Nhưng tình cảm, tình thương thầy trò của chúng tôi luôn chân tình. Tình cảm, tình thương ấy dù đã gần 30 năm trôi qua, tưởng như đi vào dĩ vãng...nhưng trái lại vô hình và hiện hữu, luôn được hun đúc đầy và đầm thắm hơn. Cuộc gặp lại các em học sinh lớp 12I(khoá1983-1986) và lớp 12C (khóa 1985-1988) của Trường cấp III Triệu Sơn 2, Thanh Hoá, đã để lại trong tôi-một nhà giáo, nhà báo với niềm tự hào và lòng cảm động vô bờ, bởi tình cảm mà học trò cũ cho mình. Đây là một phần thưởng cao quí của cuộc đời. Cảm ơn các em đã tiếp sức Thầy trong cuộc sống này. ( Quốc Ninh, nguyên giáo viên Trường cấp III, Triệu Sơn 2, Thanh Hoá.Nay đang công tác tại Báo Gia Lai)

Một số hình ảnh Cựu HS Lớp 12I (khoá 1983-1986) Triệu Sơn 2, Thanh Hoá, gặp mặt Tết Quý Tỵ



Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2013

Cần lắm việc lưu giữ hiện vật ở Am Tiên tự

Một mùa Xuân mới lại về, nghĩa là Lễ hội Ngàn Nưa cung bắt đầu khai trương. Lại nhớ lần trước về Am Tiên có chụp được mấy tấm hình những gì còn sót lại sau nhiều thăng trầm, biến cố và mai một của thời gian, như: chân cột đá, lục bình, đá tảng...bị bỏ rơi rụng không nơi lưu giữ, mà thấy chạnh lòng. Và ước, giá mà ở khu du lịch sinh thái và tâm linh Am Tiên, nếu có được một gian trưng bày, không chỉ các hiện vật còn lưu lại, mà cũng có thể tạo thêm một góc nhìn về văn hoá -lịch sử của một vùng đất thiêng này.


Khánh đá


Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

CỔ THỤ VÀ NHỮNG TRUYỀN KỲ…




 Nhìn từ giác độ văn hóa và lịch sử, cổ vật luôn mang trong mình thông điệp gửi lại cho đời sau. Trong trường nghĩa tương đồng ấy, những cây đại thụ không chỉ như một bức thông điệp giàu giá trị mà bản thân sự sống xuyên thế kỷ còn mang tính nhân văn, đôi khi nhuốm màu huyền thoại và  tâm linh.
Trên nẻo đường xuyên Việt, tôi-một lữ khách đã không dưới một lần lặng đắm suy tưởng bên bên những cây đại thụ ấy…Có cây đã được công nhận là “Cây di sản” quốc gia, có cây đến nay vẫn chưa được xác định niên đại…nhưng mỗi lần nghiêng mình trước cây, tôi vẫn luôn tự đặt cho mình câu hỏi: là cây đang sống, lại là đại thụ thì mỗi cây hẳn cũng có một số phận, chắc sẽ có những truyền kỳ, giai thoại; vậy cây có “hồn” không nhỉ?
Từ truyền kỳ cây thị ngàn năm tuổi ở Tràng An
Du ngoạn ở khu du lịch lịch sử, văn hoá và sinh thái Tràng An – Bích Động, Ninh Bình-nơi được ví là Vịnh Hạ Long trên cạn, tôi không khỏi xao xuyến khi đắm mình vào những hang động kỳ thú, mà người đời phải thốt lên:“Xuyên Thủy Động Tràng An”. Nơi đây có khoảng 50 hang xuyên thủy mà tại mỗi hang mỗi vẻ đẹp độc đáo riêng. Trong Quần thể Xuyên Thủy Động Tràng An có gần tới 30 cái thung, mỗi thung là một bức tranh thủy mặc khác nhau mây trời, non xanh, nước hòa quyện vào nhau. Nhưng trong cái mênh lung thuỷ mặc ấy lại chứa đầy huyền tích: hang Tối, hang Nấu rượu thời nguyên thuỷ... Xin khất lần sau để nói về thuỷ mặc, ở đây chỉ xin đựơc đôi nét về truyền kỳ cây Thị Tràng An.
Bên gốc thị ngàn năm 


Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Thú vui sấu cá ở Ngàn Nưa…



Năm ngoái, một bữa đang ngồi nhâm nhi vài ly thì nhận điện thoại của ông anh họ - một bác sĩ về hưu rủ tôi về quê đi sấu cá.
- Trời. Cách xa cả ngàn cây số mà ông anh bảo em về đi sáu cá ư. Nhưng đã hơn 20 năm nay mình không được thưởng ngoạn cái thú vui ấy rồi.  Cái thú vui có một không hai này. Như có ma lực, vậy là tôi cắt phép và… bay về quê. Thật không uổng, tôi đã có một chuyến picnic thật tuyệt vời. 

Nói đến Ngàn Nưa, dãy núi từ xa xưa đối với mỗi người sinh ra ở nơi đây là cơm áo gạo tiền, là “bồ lúa” của  tiều phu nghèo khi tháng Ba ngày Tám. Là tài nguyên của cải, cung cấp vật liệu… dựng nhà làm cửa, là quặng crômite quí giá…Còn khe suối của Núi Nưa có loại cá “ tủ mủ” ăn ngon đến nhớ đời.  ở quê tôi cứ đến heo may lại rủ nhau đi sấu cá khe.   
Hình ảnh từ khi chọn khe, đổ thuốc  đến bắt và nấu ăn, uống rượu

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Đền Đô-Di tích lịch sử và tâm linh

  Cách đây không lâu, trong một lần hành phương Bắc, tôi ngược Hà Nội về thăm Đền Đô ở phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh-nơi thờ 8 vị vua nhà Lý. Ông Nguyễn Đức Thìn-người coi đền đã 25 năm nay kể rằng, ông tự hào cái vinh, cái danh của nhà Lý mà tự nguyện là người coi đền không công. Ông tự hào về gia tộc họ Lý, bởi chính ông cũng là hậu duệ của họ Lý.


Ông lý giải dòng họ ông phải đổi thành họ Nguyễn, là vì những người mang họ Lý ở quê ông bị thời nhà Trần truy sát... Ông chính là cựu đội viên Đội Du kích thiếu niên Đình Bảng-là Anh hùng Lao động-Nhà giáo Nhân dân. Ông chia sẻ: “Cây có cội, nước có nguồn. Con người sinh ra nhờ có tổ tiên...”. Ông đã say sưa giới thiệu với du khách rằng đây không chỉ là di tích lịch sử văn hóa, nơi phát tích của dòng họ Lý, mà còn là nơi phong cảnh hữu tình giữa sắc nước trời mây.
Tác giả cùng ông Nguyễn Đức Thìn (bên phải) trước đền Đô. Ảnh: Q.N
Tác giả cùng ông Nguyễn Đức Thìn (bên phải) trước đền Đô. 
Cùng với quần thể chùa chiền vùng quan họ, Đền Đô trở thành trung tâm của lễ hội tâm linh. Ngày rằm hay đầu tháng bà con đến thắp hương chiêm bái cầu nguyện. Ngày giỗ các vua Lý, các thánh như Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Lý Đạo Thành… trở thành ngày mọi người dâng hương cầu cho quốc thái, dân an.