Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2012

Có một làng “ nước ngoài ” tại xã Tân Ninh.

                                                     Lê Hải

Năm 1987, tôi cưới vợ. Vợ tôi quê Nam Bộ chính tông. Từ bé, cô ấy sống cùng gia đình trong căn cứ rừng U Minh, cụ thể là Kinh Tư, huyện An Biên, Kiên Giang nên vẫn thường nói “ con cá gô bỏ gổ nó nhảy gồ gồ”. Nghe đã lạ, nhưng chưa thấm gì với cái lạ quê tôi.
Cưới vợ được 2 tháng, tôi xin phép Ba, Mẹ vợ được đưa cô ấy về thăm quê chồng. Trước đó, trong quá trình yêu nhau, tôi đã cho cô ấy biết quê tôi là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá -  một vùng quê cổ dưới chân dãy núi Ngàn Nưa. Trước khi về quê, tôi “ trân trọng” thông báo rằng: “ Em về quê, buổi đầu chắc nàng dâu không thể hiểu mẹ chồng nói gì  đâu”. Vợ tôi không tin, bảo: “Cứ nói chuyện dễ thương như anh, em nghe được hết”. Nghe thế tôi chỉ cười.
Ngay buổi tối đầu tiên về thăm quê chồng, hầu như bà con  trong xóm đều đến chúc mừng – tình cảm quê hương là thế, vợ tôi đã “ choáng” khi nghe bà con nói chuyện với nhau. Biết chắc vợ tôi không thể hiểu được tiếng địa phương nên tôi làm phiên dịch: Dịch những câu  trò chuyện giữa bà con với vợ tôi và tất cả những lời bà con nói chuyện với nhau. Cô ấy ghé tai tôi hỏi nhỏ: “Gốc quê anh là người nước ngoài à”? Tôi cười trả lời: “ Không phải quê anh gốc nước ngoài mà nước ngoài gốc quê anh”. Cô ấy lụi vào sườn tôi một cái: “ Xạo” !
alt
Một góc Chợ Nưa- Tân Ninh

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Đại tướng quân Lê Lôi - Lam Sơn khai quốc công thần.



                                                                          Lê Hải

Làng Cổ Định đến cuối thời nhà Trần đã  trở thành một vùng quê trù phú. Có thể gọi đó là làng khoa bảng cũng không sai. Bởi trong làng đã có nhiều con em thi đỗ đại khoa. Đặc biệt  vào thời Lý, Trần làng có 3 người được vua cử làm chánh sứ sang bang giao với nhà Tống, nhà Nguyên; có người làm tới chức Tể tướng, Thừa tướng.v.v…
Cuộc sống của hơn ba nghìn người lớn bé trong làng đang đầm ấm yên vui, người nông dân chăm lo cày cấy trên đồng, bậc nho sỹ miệt mài sôi kinh nấu sử thì tai hoạ ập đến với làng.

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

“ LỬA “ Ở MỘT GIA ĐÌNH CÁCH MẠNG


                      
Gia Lai được thành lập đến nay đã tròn 80 năm. 80 năm ấy có biết bao đổi thay, biết bao thế hệ , biết bao nhiêu con người đã góp công, góp sức, hy sinh cả tính mạng để có một Gia Lai như hôm nay…Trong nhiều gia đình cách mạng, muôn vàn người con của mảnh đất Gia Lai anh hùng trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, tôi muốn kể đôi điều về gia đình ông Nguyễn Khoa. Một gia đình cách mạng.
Một buổi chiều tháng 5 tôi đến thăm ông bà Nguyễn Khoa và Quách Thị Hường theo lời hẹn. Ồng Nguyễn Khoa  là một trong 6 vị được tôn vinh là cán bộ lão thành cách mạng ở Gia Lai và nay cũng là người duy nhất còn sống ( sau khi ông Trương Trợ, người bạn, người đồng chí từ thời lập Hội Cứu tế đỏ ở Bàu Cạn, vừa mất ở Hà Nội hôm đầu tháng 5 -2012). Còn bà Quách Thị Hường vợ ông, vừa là đồng chí cùng hoạt động bí mật, là cán bộ tiền khởi nghĩa. Trong căn hộ nhỏ mà ấm cúng, tiếp chuyện tôi ông gọi tôi là đồng chí, bởi cái chất cách mạng đã thấm sâu trong ông. Các cụ tiền bối cách mạng là thế - vẫn tràn đầy nghị lực, nhiệt huyết. Dù tay run run khi cầm tấm ảnh chụp chung với ông Trương Quang Được (con trai ông Trương Trợ), nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội một lần đến thăm ông ở Pleiku đưa tôi xem, nhưng mắt ông vẫn sáng và lời kể thì vẫn rõ ràng, khúc triết. 
 Ông Nguyễn Khoa và bà Quách Thị Hường ở căn hộ chung cư do tỉnh Gia Lai cấp

Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012

Ảnh đẹp

Lang thang trên mạng thấy mấy ảnh đẹp và lạ của Dubai: sống trên mây, mang về xem chơi.


Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012

Chuyện về “kiến trúc sư” xây dựng tổ chức Đảng ở Gia Lai

 
Đó là người Bí thư Đảng bộ đầu tiên của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Gia Lai: Phan Thêm - người anh Cả của chi bộ đầu tiên ở Gia Lai thành lập ngày 01-10-1945. Ông là “ kiến trúc sư” đặt những  “viên gạch đỏ” nền móng đầu tiên cho sự ra đời của Đảng bộ Gia Lai. Từ 9 đảng viên của chi bộ Đảng đầu tiên được thành lập ở Pleiku ấy, đến nay Đảng bộ Gia Lai đã có một đội ngũ hùng hậu trên 33.000 đảng viên. Tên tuổi của ông luôn gắn gắn với lịch sử của Đảng bộ và của tỉnh Gia Lai.

Ông Phan Thêm sinh năm 1913 tại Tam Hiệp, huyện Núi Thành Quảng Nam nơi có phong trào cách mạng phát triển. Chính miền quê này đã sinh ra cho đất nước nhiều chiến sĩ cách mạng kiên trung như Nguyễn Kế, Phan Tốn, Trần Văn Quế. Năm 1936, ông tham gia họat động cách mạng, đến tháng 3-1938 được kết nạp vào Đảng, được cử làm Bí thư chi bộ ghép của 2 làng Vân Trai-Thọ Khương ( xã Tam Hiệp). Tháng 9-1939, ông được bổ sung vào Tổng uỷ Phú Hoà., được phân công đi dự Hội nghị bàn kế hoạch triển khai thực hiện chỉ thị của Trung ương do Tỉnh ủy Quảng Nam tổ chức, chưa kịp đi dự thì bị địch bắt vì liên quan tới việc ông bảo vệ và che giấu đồng chí Nguyễn Xí-cán bộ Tỉnh ủy Quảng Ngãi bị truy nã đang lẩn trốn ở vùng Thọ Khương, bị địch tra tấn rất dã man. Chúng tuyên án 5 năm tù, nhưng sau ông chống án, chúng tuyên phạt thêm 2 năm nữa và đưa đi nhà lao Buôn Ma Thuột vào cuối 1940. Tại nhà lao Buôn Ma Thuột, ông cùng với anh em đồng chí tù chính trị đấu tranh chống lại sựị dã man của chế độ nhà tù, không những thế còn biến nhà tù thành trường học chính trị, bồi dưỡng và rèn luyện ý chí cách mạng. Khhi Nhật đảo chính Pháp (ngày 9-3-1945), tình hình bấy giờ có nhiều thuận lợi cho ta, bọn Nhật buộc phải thả tù chính trị. Theo sự phân công của tổ chức, ông được phân về Quảng Ngãi, nhưng chưa bắt được liên lạc nên về lại Quảng Nam hoạt động, tham gia ngay vào đội quân khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 2-9-1945, tại thị xã Hội An, Tỉnh ủy và Ủy ban Việt Minh tỉnh tổ chức mít tinh mừng thắng lợi cuộc tổng khởi nghĩa và ra mắt UBND cách mạng lâm thời tỉnh Quảng Nam, ông được phân công làm Ủy trưởng điều tra.